TCVN 11041 là bộ tiêu chuẩn quốc gia về nông nghiệp hữu cơ của Việt Nam. Ba phần nền tảng ban hành năm 2017 gồm: phần 1 về yêu cầu chung cho sản xuất, chế biến và ghi nhãn; phần 2 về trồng trọt hữu cơ; phần 3 về chăn nuôi hữu cơ. Sau đó có thêm các phần cho một số nhóm sản phẩm cụ thể. Khi một sản phẩm ghi "hữu cơ theo TCVN 11041", nghĩa là nó được đánh giá theo các phần tương ứng của bộ này.
Tiêu chuẩn là văn bản kỹ thuật, còn khung pháp lý về hữu cơ nằm ở Nghị định 109/2018/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn. Hai lớp này đi cùng nhau: nghị định nói ai được chứng nhận, ai được ghi chữ hữu cơ; tiêu chuẩn nói sản xuất thế nào thì mới đạt. Cả hai có thể được sửa đổi hoặc thay thế, nên khi cần trích dẫn chính xác, bạn tra phiên bản hiện hành trên cổng tiêu chuẩn quốc gia và cổng văn bản pháp luật.
Bài này đọc bộ tiêu chuẩn ở mức nguyên lý, để người mua và nhà vườn hiểu mỗi phần đòi hỏi gì và vì sao, không đi vào hồ sơ xin chứng nhận.
Cấu trúc bộ tiêu chuẩn: đọc phần nào cho việc gì
Một bộ tiêu chuẩn nhiều phần giống một cuốn sách có chương chung và chương riêng. Phần chung áp cho mọi sản phẩm, phần riêng chỉ áp cho nhóm mình:
- Phần 1, yêu cầu chung: nguyên tắc hữu cơ, các chất được và không được dùng trong sản xuất, chế biến, yêu cầu ghi nhãn, tách biệt sản phẩm. Đây là phần mọi sản phẩm hữu cơ đều phải qua.
- Phần 2, trồng trọt: chuyển đổi đất, quản lý độ phì, giống, phòng trừ sâu bệnh, cỏ dại, nước tưới, thu hoạch và sau thu hoạch.
- Phần 3, chăn nuôi: nguồn con giống, thức ăn hữu cơ, chuồng trại và không gian vận động, chăm sóc thú y, vận chuyển và giết mổ.
- Các phần cho sản phẩm cụ thể: bổ sung yêu cầu riêng cho một số nhóm hàng như gạo, chè. Danh mục phần này có thể đã thay đổi, nên kiểm danh mục hiện hành trước khi trích.
Khi đọc giấy chứng nhận, bạn sẽ thấy ghi rõ đánh giá theo phần nào. Một trang trại trồng rau được chứng nhận theo phần trồng trọt không có nghĩa trứng gà bán kèm ở cùng trang trại cũng hữu cơ, vì trứng thuộc phần chăn nuôi và phải được đánh giá riêng.
Nguyên tắc chung: vì sao tiêu chuẩn viết như vậy
Phần chung của TCVN 11041 kế thừa các nguyên tắc hữu cơ đã được phong trào hữu cơ quốc tế đúc kết. Liên đoàn Quốc tế các Phong trào Nông nghiệp Hữu cơ (IFOAM) nêu bốn nguyên tắc: sức khoẻ, sinh thái, công bằng và cẩn trọng. Đọc tiêu chuẩn với bốn chữ này trong đầu thì nhiều điều khoản tự nhiên dễ hiểu.
Nguyên tắc sinh thái giải thích vì sao tiêu chuẩn đòi nuôi dưỡng đất bằng chất hữu cơ, luân canh, cây che phủ, thay vì bón thẳng dinh dưỡng hoà tan cho cây. Mục tiêu là một hệ đất sống, tự giữ được độ phì. Nguyên tắc cẩn trọng giải thích vì sao giống biến đổi gen, chất tổng hợp mới bị loại: khi chưa đủ hiểu biết về tác động lâu dài, tiêu chuẩn chọn cách tránh.
Nguyên tắc sức khoẻ không chỉ là sức khoẻ người ăn, mà cả đất, cây, con vật. Đó là lý do phần chăn nuôi quy định không gian vận động và hạn chế thuốc thú y. Nguyên tắc công bằng thể hiện ở chỗ chuỗi cung ứng phải minh bạch, không gây hại cho người lao động và cộng đồng xung quanh.
Hiểu nguyên tắc giúp bạn đọc đúng những điều khoản có vẻ khắt khe. Chẳng hạn, việc cấm thuốc trừ cỏ tổng hợp không phải vì mọi thuốc trừ cỏ đều độc với người ăn, mà vì hệ hữu cơ chọn quản lý cỏ bằng biện pháp cơ học và sinh học, giữ cho đất và sinh vật đất không bị tác động.
Phần trồng trọt đòi hỏi gì trên ruộng
Chuyển đổi đất. Vùng đất phải trải qua giai đoạn chuyển đổi, canh tác theo cách hữu cơ một thời gian trước khi sản phẩm được bán với chữ hữu cơ. Thời gian khác nhau giữa cây hàng năm và cây lâu năm, và có thể được xem xét rút ngắn hoặc kéo dài tuỳ lịch sử sử dụng đất.
Độ phì của đất. Dinh dưỡng đến chủ yếu từ chất hữu cơ: phân chuồng ủ, phân xanh, cây họ đậu cố định đạm, tàn dư cây trồng. Phân khoáng tự nhiên ít hoà tan được dùng có điều kiện; phân đạm tổng hợp bị loại.
Phòng trừ sâu bệnh theo thứ tự. Trước hết là phòng: chọn giống chống chịu, luân canh, xen canh, giữ thiên địch. Sau đó mới đến biện pháp cơ học như bẫy, lưới. Cuối cùng mới là các chế phẩm nằm trong danh mục được phép, dùng khi thật cần.
Vùng đệm. Ruộng hữu cơ phải được ngăn với nguồn ô nhiễm từ ruộng bên cạnh, bằng khoảng cách, hàng cây chắn, hoặc biện pháp tương đương. Phần sản phẩm thu ở vùng đệm thường không được bán là hữu cơ.
Nước tưới và nguồn ô nhiễm. Nước tưới không được nhiễm bẩn nghiêm trọng. Người sản xuất cần đánh giá nguy cơ từ kênh mương, nhà máy, khu dân cư gần ruộng, và có biện pháp giảm thiểu.
Tách biệt sản xuất song song. Khi một hộ có cả ruộng hữu cơ và ruộng thường, tiêu chuẩn đòi tách bạch dụng cụ, kho, ghi chép, và thường hạn chế trồng cùng một giống ở hai bên để tránh lẫn.
Phần chăn nuôi khác hẳn chăn nuôi thông thường ở đâu
Điểm khác dễ thấy nhất là thức ăn. Vật nuôi hữu cơ phải ăn thức ăn hữu cơ, tức ngô, cám, đậu, cỏ đều được sản xuất theo cách hữu cơ. Ở Việt Nam, đây là nút thắt lớn, vì nguồn thức ăn chăn nuôi hữu cơ trong nước còn ít, và chi phí thức ăn quyết định phần lớn giá thành.
Điểm thứ hai là không gian. Tiêu chuẩn yêu cầu vật nuôi có điều kiện thể hiện tập tính tự nhiên: gà được bới, heo được ủi, bò được gặm cỏ. Điều này kéo theo giới hạn mật độ, yêu cầu có khu vận động ngoài trời hoặc tương đương. Nuôi nhốt chật trong chuồng kín, dù cho ăn thức ăn hữu cơ, không đạt.
Điểm thứ ba là thú y. Tiêu chuẩn ưu tiên phòng bệnh bằng chọn giống, dinh dưỡng, chuồng trại thông thoáng. Không cho dùng thuốc để kích thích tăng trưởng, không dùng kháng sinh để phòng bệnh hàng loạt. Khi con vật ốm, việc chữa trị vẫn được đặt lên trên, không bỏ mặc con vật vì muốn giữ chữ hữu cơ; nhưng sau điều trị, sản phẩm phải qua thời gian ngưng dài hơn quy định thông thường, hoặc mất tư cách hữu cơ tuỳ trường hợp.
Cuối cùng là nguồn con giống, vận chuyển, giết mổ. Con giống nhập từ ngoài có điều kiện về thời gian nuôi theo hữu cơ trước khi sản phẩm được tính là hữu cơ; vận chuyển và giết mổ phải hạn chế gây căng thẳng cho con vật.
Một vài điều khoản dễ hiểu sai
Bảng dưới đặt cạnh nhau cách hiểu phổ biến và điều tiêu chuẩn thật sự đòi hỏi, ở mức nguyên lý:
| Cách hiểu phổ biến | Điều tiêu chuẩn đòi hỏi |
|---|---|
| Hữu cơ là không dùng bất kỳ thuốc gì | Có danh mục chế phẩm được phép như vi sinh, thảo mộc, khoáng tự nhiên; dùng có điều kiện |
| Bón phân chuồng là đạt hữu cơ | Phân chuồng phải ủ đúng cách, nguồn gốc rõ; còn phải đạt mọi yêu cầu khác về giống, thuốc, vùng đệm |
| Cứ ngừng phun thuốc là chuyển sang hữu cơ ngay | Phải qua giai đoạn chuyển đổi, có ghi chép và được đánh giá |
| Con vật hữu cơ không bao giờ được chữa bằng thuốc | Con vật ốm phải được chữa; sau điều trị có thời gian ngưng hoặc mất tư cách hữu cơ |
| Tiêu chuẩn chỉ nói về ruộng | Phần chung có yêu cầu cho chế biến, bảo quản, vận chuyển, ghi nhãn |
| Đạt TCVN 11041 là bán được hữu cơ ở mọi nước | Mỗi thị trường nhập khẩu có tiêu chuẩn và cách công nhận riêng |
Dòng cuối là điều nhiều người làm hàng xuất khẩu hiểu nhầm. TCVN 11041 có giá trị trong nước; để bán với chữ organic ở Mỹ, EU, Nhật, sản phẩm thường phải được chứng nhận theo tiêu chuẩn của chính thị trường đó.
Sau thu hoạch, chế biến và ghi nhãn: phần ít người đọc
Hữu cơ không dừng ở bờ ruộng. Phần yêu cầu chung đặt điều kiện cho cả đoạn đường từ khi hái đến khi tới tay người mua: rửa, phơi, sấy, xay xát, đóng gói, lưu kho, vận chuyển. Một lô gạo hữu cơ đem xay ở xưởng xay chung với gạo thường, không vệ sinh máy và không ghi chép, có thể mất tư cách hữu cơ dù ruộng làm đúng hết.
Chất được dùng khi sơ chế, bảo quản cũng có danh mục. Chất tẩy rửa bề mặt, chất xông kho, chất hỗ trợ chế biến đều phải nằm trong danh sách cho phép. Bảo quản kho bằng hoá chất xông hơi tổng hợp là điều tiêu chuẩn hữu cơ loại bỏ; thay vào đó là làm khô, làm lạnh, kho kín, kiểm soát côn trùng bằng biện pháp vật lý.
Hàng chế biến nhiều thành phần. Khi sản phẩm có nhiều thành phần, phần lớn nguyên liệu có nguồn gốc nông nghiệp phải là hữu cơ thì mới được gọi là sản phẩm hữu cơ; phần còn lại phải là thành phần được phép. Tỷ lệ cụ thể và cách ghi khi chưa đạt tỷ lệ đó, bạn kiểm trong phần yêu cầu chung bản hiện hành.
Nhãn phải cho truy ngược được. Nhãn sản phẩm hữu cơ cần cho biết đơn vị chịu trách nhiệm và thông tin về chứng nhận, để người mua hoặc cơ quan kiểm tra lần ngược được về nơi sản xuất. Một nhãn chỉ có chữ hữu cơ thật to mà không có tên ai chứng nhận là nhãn thiếu phần quan trọng nhất.
Từ tiêu chuẩn đến con dấu: ai đánh giá, đánh giá thế nào
Tiêu chuẩn tự nó không cấp con dấu. Theo khung quy định hiện có, sản phẩm được xác nhận hữu cơ qua tổ chức chứng nhận được phép hoạt động trong lĩnh vực này, đánh giá theo TCVN 11041 hoặc tiêu chuẩn tương đương. Với nhóm hộ, tổ hợp tác, hợp tác xã quy mô nhỏ, còn có hình thức hệ thống đảm bảo cùng tham gia (PGS). Điều kiện cụ thể cho từng hình thức nằm trong nghị định và văn bản hướng dẫn, bạn kiểm bản hiện hành.
Việc đánh giá thường gồm xem hồ sơ (nhật ký đầu vào, sơ đồ ruộng, lịch sử đất), đi thực địa (ruộng, kho, nơi sơ chế, vùng đệm), phỏng vấn người làm, và có thể lấy mẫu đất, nước, sản phẩm để phân tích. Sau khi cấp giấy, tổ chức chứng nhận giám sát định kỳ trong thời gian hiệu lực.
Với người mua, điều đáng nhớ là con dấu gắn với một phạm vi cụ thể: một đơn vị sản xuất, một diện tích, một danh sách sản phẩm, một khoảng thời gian. Ra ngoài phạm vi đó, con dấu không còn nói gì nữa.
Câu hỏi thường gặp
TCVN 11041 có bắt buộc không?
Tiêu chuẩn quốc gia nói chung là tự nguyện áp dụng. Nhưng khi một đơn vị muốn ghi chữ hữu cơ lên sản phẩm bán trong nước, khung quy định về nông nghiệp hữu cơ yêu cầu sản phẩm được chứng nhận phù hợp với tiêu chuẩn hữu cơ được thừa nhận, trong đó có TCVN 11041. Chi tiết điều kiện, bạn kiểm nghị định và văn bản hướng dẫn hiện hành.
TCVN 11041 có giống tiêu chuẩn hữu cơ của EU, Mỹ không?
Cùng nguyên lý: không phân bón và thuốc tổng hợp, không biến đổi gen, có chuyển đổi, có tách biệt và ghi chép. Khác nhau ở chi tiết: danh mục chất được phép, thời gian chuyển đổi, quy định chăn nuôi, cách ghi nhãn. Vì vậy chứng nhận theo tiêu chuẩn này không tự động được thị trường kia công nhận.
Một trang trại có thể vừa có ruộng hữu cơ vừa có ruộng thường không?
Có, tiêu chuẩn gọi là sản xuất song song và cho phép có điều kiện. Người sản xuất phải tách bạch rõ ràng khu vực, dụng cụ, kho, ghi chép, và thường không được trồng cùng một giống ở hai bên để tránh nhầm lẫn. Người kiểm sẽ xem kỹ phần này vì đây là chỗ dễ lẫn hàng nhất.
Sản phẩm chế biến như nước ép, bột ngũ cốc có theo TCVN 11041 được không?
Được. Phần yêu cầu chung có quy định cho chế biến: nguyên liệu nông nghiệp phần lớn phải là hữu cơ, phụ gia và chất hỗ trợ chế biến chỉ dùng loại trong danh mục cho phép, quy trình phải tránh lẫn với hàng thường. Cơ sở chế biến cũng phải được đánh giá, không chỉ ruộng nguyên liệu.
Tìm văn bản gốc của TCVN 11041 ở đâu?
Văn bản tiêu chuẩn quốc gia được phát hành qua hệ thống của cơ quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng; danh mục và tình trạng hiệu lực tra được trên cổng thông tin tiêu chuẩn quốc gia. Nên kiểm số hiệu và năm ban hành của từng phần, vì bộ tiêu chuẩn có thể đã được soát xét, bổ sung phần mới.