Một chỉ dẫn địa lý "nằm trên giấy" là chỉ dẫn địa lý đã có văn bằng bảo hộ nhưng hầu như không được dùng trên thị trường: ít hàng mang tem, quy chế có mà không ai kiểm, người mua không phân biệt được hàng có và không có dấu. Nguyên nhân thường gặp là không có tổ chức của người sản xuất đủ sức vận hành, chi phí tuân thủ đè lên hộ nhỏ trong khi thị trường không trả thêm cho tem, và phần lớn hàng đi qua thương lái, chợ đầu mối dưới dạng hàng rời.
Chuyện này không riêng gì Việt Nam; ở nhiều nước, khoảng cách giữa số tên vùng được bảo hộ và số tên vùng thật sự tạo ra khác biệt trên thị trường cũng rất lớn. Với người mua, điều quan trọng là hiểu rằng câu "sản phẩm này đã có chỉ dẫn địa lý" không cho biết nhiều nếu tên vùng ấy không đang sống. Với người viết truyền thông nông sản, đây là chỗ nên tỉnh táo trước khi biến một văn bằng thành lời bảo đảm chất lượng.
Một chỉ dẫn địa lý "trên giấy" trông như thế nào
Không có định nghĩa chính thức, nhưng những dấu hiệu sau thường đi cùng nhau. Một CDĐL có vài dấu hiệu không có nghĩa là vô dụng; có gần hết thì khả năng cao nó chưa được khai thác:
- Rất khó tìm thấy hàng mang tem hoặc biểu trưng CDĐL ở các điểm bán, kể cả ngay trong vùng.
- Người trồng trong vùng không biết mình có được dùng không, hoặc không biết phải hỏi ai.
- Quy chế quản lý được ban hành từ lâu, không có thông tin về kiểm soát, lấy mẫu trong những năm gần đây.
- Hàng của vùng chủ yếu bán rời cho thương lái, không qua bao bì của người sản xuất.
- Giá hàng đúng vùng gần như không khác hàng cùng giống nơi khác trên cùng một chợ.
- Tên vùng xuất hiện tràn lan trên bao bì ở nhiều nơi, nhưng không bao bì nào có tem.
Dấu hiệu cuối cùng đặc biệt đáng chú ý: một tên vùng bị dùng tự do khắp nơi trong khi người có quyền dùng lại không dùng, là dấu hiệu tên vùng đang mất dần giá trị bảo hộ trên thực tế dù văn bằng vẫn còn hiệu lực.
Văn bằng đến trước, tổ chức sản xuất đến sau
Ở Việt Nam, nhiều hồ sơ CDĐL được xây dựng qua các chương trình, dự án hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ do cơ quan nhà nước chủ trì. Cách làm này giúp nhiều tên vùng được bảo hộ nhanh, kể cả ở những nơi người sản xuất chưa có điều kiện tự làm hồ sơ. Nhưng nó cũng tạo ra một khoảng trống: khi dự án kết thúc, văn bằng đã có, quy chế đã ban hành, còn việc vận hành hằng ngày cần một tổ chức của người sản xuất đứng ra thì có khi chưa hình thành.
Vận hành một CDĐL là việc tốn công đều đặn: cập nhật danh sách người dùng, hướng dẫn ghi sổ, tổ chức kiểm soát nội bộ, cấp tem, theo dõi thị trường. Nếu không có hội hoặc hợp tác xã đủ sức gánh, những việc này rơi về cơ quan nhà nước ở địa phương, vốn còn nhiều nhiệm vụ khác và kinh phí theo năm.
Kết quả là có những CDĐL mà văn bằng là sản phẩm cuối cùng của cả một quá trình, thay vì là điểm bắt đầu. Đây không phải lỗi của người trồng hay của cơ quan quản lý riêng ai, mà là hệ quả của việc đi từ trên xuống: tên vùng được bảo hộ trước khi cộng đồng sản xuất sẵn sàng giữ nó.
Bài toán của nhà vườn: tem tốn công, lợi ích không chắc
Với một hộ trồng trong vùng, quyết định có dùng CDĐL hay không là một phép so sánh rất cụ thể. Bảng dưới liệt kê các phía của phép so sánh ấy ở mức nguyên lý, không có con số:
| Phía chi phí và công sức | Phía lợi ích kỳ vọng | Khi nào lợi ích không đến |
|---|---|---|
| Ghi sổ canh tác, thu hoạch đều đặn | Người mua tin hơn, có thể trả giá tốt hơn | Hàng vẫn bán cho thương lái theo giá chung |
| Giữ giống cũ thay vì đổi giống năng suất cao | Giữ được đặc tính làm nên tên vùng | Thị trường không phân biệt được giống cũ và giống mới |
| Chịu kiểm tra, lấy mẫu | Được vào kênh bán cần chứng minh nguồn gốc | Không có kênh nào như vậy gần vùng |
| Mua tem, làm bao bì riêng | Tách được hàng của mình khỏi hàng trộn | Hàng trộn vẫn in tên vùng mà không bị xử lý |
| Thời gian họp, tham gia tổ chức tập thể | Có tiếng nói chung khi thương lượng | Tổ chức yếu, không đàm phán được gì |
Đọc cột thứ ba sẽ thấy vấn đề không nằm ở nhà vườn lười hay thiếu hiểu biết. Họ đang trả lời hợp lý trước một thị trường chưa trả tiền cho sự khác biệt. Chỉ khi cột thứ hai trở thành hiện thực ở đủ nhiều nơi, việc dùng CDĐL mới lan rộng.
Kênh bán rời không cần tem
Phần lớn nông sản tươi ở Việt Nam đi theo một con đường quen thuộc: nhà vườn bán tại vườn cho thương lái, thương lái gom về điểm thu mua, hàng lên xe về chợ đầu mối, từ đó chia cho các chợ lẻ, cửa hàng và một phần đi xuất khẩu. Trên con đường này, hàng được phân loại theo kích cỡ, độ chín, ngoại hình; tem CDĐL không phải là tiêu chí để định giá.
Khi tem không đổi được thành giá ở điểm bán đầu tiên, nhà vườn không có lý do để mua tem. Thương lái cũng không cần tem, vì họ có thể tự in tên vùng lên thùng mà ít khi bị kiểm. Chợ đầu mối bán theo lô lớn, người mua sỉ quan tâm tới giá và độ đều, ít quan tâm tới dấu kiểm soát.
Những nơi CDĐL được dùng nhiều hơn thường có thêm một con đường khác: hợp tác xã hoặc doanh nghiệp trong vùng đóng gói tại chỗ, bán cho siêu thị, cửa hàng thực phẩm, khách hàng ở xa hoặc xuất khẩu theo đơn đặt hàng yêu cầu nguồn gốc. Chính kênh này mới cần tem, và khi kênh này nhỏ thì tem cũng ít.
Cũng cần nói thêm rằng kênh bán rời không xấu. Nó giúp hàng đi nhanh, giảm hư hỏng, và nhà vườn nhận tiền ngay. Vấn đề chỉ là kênh này không mang theo thông tin về nguồn gốc và đặc tính. Muốn tên vùng có nghĩa trên thị trường, cần thêm những đoạn chuỗi giữ được thông tin ấy, chứ không cần thay hẳn kênh cũ.
Những nơi làm được thường có gì chung
Một tổ chức tập thể có việc thật để làm. Hội hoặc hợp tác xã không chỉ tồn tại để làm hồ sơ, mà thật sự gom hàng, đóng gói, đàm phán với người mua. Khi tổ chức có doanh thu, nó có tiền để làm kiểm soát.
Một kênh bán trả tiền cho sự khác biệt. Có ít nhất một nhóm người mua, trong nước hay nước ngoài, sẵn sàng trả thêm cho hàng chứng minh được nguồn gốc và đặc tính. Khi có kênh này, tem trở thành công cụ bán hàng chứ không còn là thủ tục.
Tem gắn với truy xuất thật. Tem có số, nối với sổ ghi chép của từng cơ sở, cho phép lần ngược khi có vấn đề. Tem như vậy khó bị dán tràn lên hàng trộn.
Kiểm soát có kinh phí ổn định. Một phần chi phí kiểm soát đến từ chính người dùng tem, phần còn lại từ ngân sách địa phương, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào một dự án có thời hạn.
Có người làm truyền thông đúng mức. Thông tin về tên vùng được nói đúng phạm vi, không thổi phồng, giúp người mua hiểu vì sao tem đáng giá mà không kỳ vọng sai.
Một chỉ dẫn địa lý "trên giấy" có thể sống lại không
Văn bằng CDĐL không hết hạn chỉ vì ít được dùng; nó chỉ chấm dứt hiệu lực trong những trường hợp luật quy định, chẳng hạn khi điều kiện địa lý làm nên đặc tính sản phẩm không còn. Vì vậy, một tên vùng đang ngủ vẫn có thể được đánh thức nếu cộng đồng sản xuất và địa phương muốn. Việc này thường bắt đầu từ chỗ rà lại quy chế cho sát thực tế, củng cố một tổ chức đủ sức vận hành, và tìm một kênh bán đầu tiên chịu trả cho nguồn gốc.
Điều cần cảnh giác là cách đánh thức bằng truyền thông trước, tổ chức sau. Một chiến dịch quảng bá làm tên vùng nổi lên nhanh, nhưng nếu hệ thống kiểm soát chưa sẵn, lượng hàng mang tên vùng trên thị trường tăng mạnh, phần lớn không qua kiểm soát. Kết quả có thể là tên vùng nổi tiếng hơn nhưng kém tin cậy hơn.
Với người làm truyền thông nông sản, cách đóng góp hữu ích nhất là đưa tin về những nơi đang làm thật: hợp tác xã nào đang kiểm soát, tem có truy xuất ra sao, vụ này đạt bao nhiêu phần sản lượng. Những thông tin ấy giúp người mua chọn đúng và tạo áp lực tích cực cho những nơi còn đứng yên. Một bài viết nói rõ chỗ còn thiếu của một tên vùng thường có ích cho vùng ấy hơn mười bài ca ngợi chung chung.
Người mua và người viết làm gì với một tên vùng chưa sống
Khi bạn nghi tên vùng trên một sản phẩm thuộc diện "trên giấy", có thể xử lý theo thứ tự sau thay vì bỏ qua hoặc tin trọn:
- Coi tên vùng như thông tin về nơi trồng, chưa phải bằng chứng chất lượng, nếu không có tem hay dấu kiểm soát đi kèm.
- Tìm thông tin khác thay thế: tên cơ sở sản xuất, chứng nhận quy trình, phiếu kiểm nghiệm lô, kinh nghiệm thực tế của chính bạn với nguồn hàng.
- Nếu cần hàng có kiểm soát thật, hỏi tổ chức quản lý CDĐL ở địa phương xem có cơ sở nào đang dùng tem không.
- Khi viết, nói rõ tên vùng đã được bảo hộ nhưng việc dùng tem còn hạn chế, thay vì viết như thể mọi hàng mang tên vùng đều qua kiểm soát.
- Ghi nhận và lan toả những cơ sở đang làm đúng, vì đó là con đường thực tế nhất để tên vùng sống lại.
Không có bước nào ở đây đòi hỏi bạn phải là chuyên gia sở hữu trí tuệ. Chỉ cần tách bạch giữa "đã được bảo hộ" và "đang được giữ", hai trạng thái mà ngôn ngữ thường ngày hay gộp làm một.
Câu hỏi thường gặp
Chỉ dẫn địa lý ít được dùng có bị thu hồi không?
Ít được dùng không phải là căn cứ chấm dứt hiệu lực văn bằng. Văn bằng chỉ dẫn địa lý chỉ chấm dứt trong các trường hợp luật quy định, như khi điều kiện địa lý tạo nên đặc tính sản phẩm không còn. Tuy vậy, một tên vùng bị dùng tràn lan lâu ngày có nguy cơ mất giá trị phân biệt trên thực tế.
Vì sao nhà vườn trong vùng không dùng tem chỉ dẫn địa lý?
Thường vì tem tốn công ghi chép, chịu kiểm tra và chi phí bao bì, trong khi hàng vẫn bán cho thương lái theo giá chung. Khi thị trường đầu tiên không trả thêm cho tem, nhà vườn không có lý do kinh tế để dùng.
Sản phẩm của vùng có chỉ dẫn địa lý nhưng không có tem thì có kém hơn không?
Không nhất thiết. Hàng có thể đúng vùng, đúng giống và ngon, chỉ là không đi qua hệ thống kiểm soát nên không có lời hứa của chỉ dẫn địa lý đi kèm. Người mua cần dựa vào thông tin khác như cơ sở sản xuất hay kinh nghiệm thực tế.
Ai chịu trách nhiệm làm cho chỉ dẫn địa lý được khai thác?
Trách nhiệm chia nhiều phía: tổ chức quản lý ở địa phương giữ quy chế và kiểm soát, tổ chức của người sản xuất vận hành hằng ngày, người sản xuất dùng tem và giữ quy trình, doanh nghiệp và người bán tạo kênh trả tiền cho nguồn gốc. Thiếu một phía là tên vùng khó sống.
Quảng bá mạnh có giúp chỉ dẫn địa lý sống lại không?
Chỉ khi hệ thống kiểm soát đã sẵn sàng. Nếu quảng bá đi trước, lượng hàng mang tên vùng tăng nhanh mà phần lớn không qua kiểm soát, tên vùng nổi hơn nhưng kém tin cậy hơn. Thứ tự hợp lý là tổ chức, kiểm soát, kênh bán, rồi mới đến quảng bá.
Làm sao biết một chỉ dẫn địa lý đang được kiểm soát thật?
Có thể hỏi tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý ở địa phương về danh sách cơ sở đang dùng tem, xem tem có số và truy xuất được về cơ sở không, và tìm thông tin về các đợt kiểm soát gần đây. Thiếu những thông tin này là dấu hiệu nên dè dặt.